DMARD withdrawal

Viêm khớp dạng thấp có ngưng điều trị được không?

⏳Thời gian đọc: 6 phút
Một những điều khiến người bệnh sốc nhất khi mắc viêm khớp dạng thấp (VKDT) là việc bác sĩ bảo họ rằng đây là bệnh dùng thuốc và tái khám suốt đời. Bài viết này sẽ tìm hiểu về nguy cơ bùng phát bệnh khi ngừng thuốc đặc trị trong viêm khớp dạng thấp, còn gọi DMARD (Disease-modifying antirheumatic drug, thuốc chống thấp thay đổi diễn tiến bệnh).
Chú thích:
  • DMARD chia làm cổ điển, sinh học và thuốc phân tử nhỏ, đều là thuốc kiểm soát bệnh trong viêm khớp dạng thấp để giảm và ngưng glucocorticoid.
  • Các thang điểm như DAS28, SDAI, CDAI dùng đánh giá hoạt tính bệnh, khảo sát đáp ứng điều trị khi đạt được hoạt tính bệnh thấp hoặc lí tưởng là lui bệnh.

Nguy cơ bùng phát khi ngừng thuốc DMARD

Nhiều nghiên cứu đã khảo sát tỉ lệ bùng phát bệnh trên đối tượng VKDT hoạt tính bệnh thấp hoặc đạt lui bệnh khi ngừng thuốc DMARD sinh học hoặc DMARD cổ điển.
Emery và cộng sự nghiên cứu trên đối tượng VKDT chưa điều trị, cho họ dùng etanercept 50mg (thuốc kháng TNF, 1 loại DMARD sinh học) kết hợp methotrexate (MTX, DMARD cổ điển nền tảng trong điều trị) trong 52 tuần. Tất cả đối tượng có đáp ứng (hoạt tính bệnh thấp với DAS28 ≤3.2 vào tuần 39 và lui bệnh với DAS28 <2.6 vào tuần 52) đưa vào pha mù đôi. Đối tượng được phân ngẫu nhiên tỉ lệ 1:1:1 vào 3 nhóm: etanercept 25mg kết hợp MTX, MTX đơn trị và giả dược trong 39 tuần. Tại tuần 39, tất cả đối tượng đáp ứng của giai đoạn mù đôi được ngưng toàn bộ thuốc điều trị và theo dõi đến tuần 65 (pha ngưng thuốc).

Kết quả 193 đối tượng được đưa vào pha mù đôi và 131 người đi tiếp vào pha ngưng thuốc. Trong pha mù đôi, nhóm giả dược có số người bị bùng phát lại VKDT cao nhất (77%), theo sau là nhóm chỉ dùng MTX có tỉ lệ bùng phát VKDT 60% so với nhóm phối hợp thuốc là 37%. Tại tuần 65 của pha ngưng thuốc, tỉ lệ bùng phát VKDT vẫn cao nhất ở nhóm giả dược, khác biệt có ý nghĩa thống kê với nhóm phối hợp thuốc.

Kết luận từ nghiên cứu này cho thấy khi ngưng DMARD sinh học hoặc DMARD cổ điển đều gây tỉ lệ tái phát bệnh rất cao.
Gần đây hơn, các tác giả Hàn Quốc thực hiện nghiên cứu xem có thể ngưng MTX ở người bệnh VKDT đã ngưng ít nhất 10 năm. Đối tượng nghiên cứu bao gồm cả những người đơn trị MTX, MTX kết hợp DMARD cổ điển khác, DMARD sinh học hay thuốc phân tử nhỏ (ts—targeted synthetic—DMARD). Các đối tượng đều ở hoạt tính bệnh thấp hoặc lui bệnh khi ngưng MTX và ít nhất đã dùng MTX liều ổn định >6 tháng trước đó. Tất cả đối tượng theo dõi đợt bùng phát sau 6 tháng (DAS28 tăng >1.2 và thỏa ít nhất 1 điều kiện: dùng lại MTX, thêm DMARD mới hoặc tăng liều glucocorticoid).

97 đối tượng tham gia nghiên cứu, thời gian dùng MTX trung vị là 19 năm (10 – 22), thời gian trung vị điều trị ổn định là 5.7 (0.7 – 20.6) năm và không dùng glucocorticoid là 4.8 (0.7 – 20.7) năm. Liều MTX trung vị trước ngưng cũng khá thấp (12.5mg). Khoảng 1/4 đối tượng đơn trị MTX và 3/4 đối tượng kém đáp ứng MTX, cần đến DMARD sinh học/tsDMARD. 

Kết quả cũng không bất ngờ với tỉ lệ đợt bùng phát là 44,3% và thời gian trung vị đến bùng phát là 99 ngày (khoảng tứ phân vị: 28 – 168). Vậy, kết quả này cho thấy dùng MTX lâu tận 10 năm mà ngưng thuốc thì nguy cơ bùng phát vẫn cao.

Trên đây là 2 ví dụ trong số nhiều nghiên cứu đều cho thấy tỉ lệ bùng phát lại VKDT sau khi ngưng thuốc DMARD cổ điển hay sinh học đều cao không chấp nhận được.

Yếu tố dự đoán bùng phát sau ngưng thuốc

Như 1 lẽ tự nhiên, người ta cũng đi tìm yếu tố nào dự báo VKDT tái phát khi ngưng thuốc DMARD.
Kameda và cộng sự khảo sát 36 đối tượng đã đạt lui bệnh theo điểm SDAI ≤3.3 ít nhất 3 tháng sẵn sàng ngưng thuốc DMARD sinh học. Các đối tượng được theo dõi tiến cứu trong 2 năm. Kết cục chính là đợt bùng phát xác định bởi DAS28-ESR (tốc độ lắng máu) ≥ 3.2 kèm tăng từ điểm ban đầu > 0.6 trong vòng 2 năm sau khi ngưng DMARD sinh học.

Kết quả ghi nhận thời gian bệnh trung vị là 5.2 năm, ngưng DMARD sinh học trung vị 2.1 năm (khoảng tứ phân vị: 1.4 – 3.5) và thời gian trung vị đạt lui bệnh là 20 tháng (9 – 31). Tỉ lệ bị bùng phát trong vòng 2 năm là 55.6% với thời gian tái phát trung vị 115 ngày (43 – 651). May mắn thay, 90% đối tượng quay lại lui bệnh khi dùng lại loại thuốc DMARD trước đó. Các yếu tố dự đoán bùng phát VKDT gồm nồng độ thụ thể TNF1 hòa tan cao, nồng độ IL-2 thấp.

Một số nghiên cứu cũ hơn ghi nhận thời gian bệnh dài, anti CCP dương tính, tổn thương hủy khớp trên X quang và bệnh còn hoạt tính liên quan đến bùng phát bệnh khi ngưng DMARD sinh học. Nghiên cứu của Kameda và cộng sự tuy thời gian bệnh, anti CCP dương tính, và DAS28-ESR cao hơn ở nhóm bùng phát bệnh nhưng không khác biệt ý nghĩa thống kê với nhóm không bùng phát, có thể giải thích do cỡ mẫu nhỏ (36 người).

Nghiên cứu của các tác giả Hàn Quốc kể trên, mô hình hồi quy logistic đơn biến cũng ghi nhận yếu tố: nồng độ CRP, ESR tại thời điểm ngưng thuốc, ESR trung bình trong 6 tháng trước ngưng thuốc, liều MTX mỗi tuần trước ngưng thuốc, phối hợp các DMARD cổ điển khác làm tăng nguy cơ bùng phát bệnh. Nhưng khi phân tích đa biến, chỉ còn liều MTX mỗi tuần trước ngưng thuốc có liên quan tăng nguy cơ bùng phát (OR: 1.014, khoảng tin cậy 95%: 1.014 – 1.342, p = 0.031).

Lỡ cần ngưng MTX ngắn hạn thì sao?

Các tác giả người Hàn nghiên cứu về khả năng ngưng MTX trong 2 hoặc 4 tuần trước tiêm ngừa cúm mùa. Đối với thời gian ngưng MTX 4 tuần, điểm DAS28 tăng nhiều hơn trước khi quay lại bình thường khi dùng lại MTX. Tỉ lệ đợt bùng phát ở nhóm ngưng thuốc 4 tuần là 20.5%, cao hơn nhóm 2 tuần (10.8%) và nhóm tiếp tục dùng MTX (5.8%), khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0.01. Thay đổi điểm DAS28 so với mức nền cũng cao hơn ở nhóm ngưng thuốc 4 tuần so với nhóm tiếp tục MTX (p = 0.005).

Qua đó, kết luận từ nghiên cứu cho rằng ngưng thuốc MTX ngắn hạn 2 tuần có thể an toàn trong khi ngưng 4 tuần thì tăng tỉ lệ đợt bùng phát và hoạt tính bệnh VKDT thoáng qua.

Khuyến cáo trên thế giới nói gì?

Tuy nguy cơ bùng phát hay mất kiểm soát bệnh cao như vậy nhưng chúng ta vẫn có cách để giúp bệnh nhân giảm thuốc. Cả 2 hiệp hội lớn từ Mỹ (ACR) và Châu Âu (EULAR) đều đồng thuận không nên ngưng thuốc hoàn toàn vì nguy cơ tái phát cao và nguy cơ tổn thương khớp không hồi phục, mà nên duy trì ít nhất 1 DMARD.

Từ đầu đến giờ mình không nhắc đến nguy cơ khi ngưng glucocorticoid vì cả ACR và EULAR đồng thuận bắt buộc phải ngưng glucocorticoid trước khi tính đến chuyện giảm DMARD.

ACR và EULAR đều đồng thuận về việc người bệnh cần đạt lui bệnh hoặc hoạt tính bệnh thấp ít nhất 6 tháng trước khi cân nhắc chuyện giảm liều hay ngưng thuốc. Chiến lược có thể áp dụng gồm giãn liều thuốc hoặc giảm liều thuốc đều được chấp nhận.

Riêng ACR, khuyến cáo có điều kiện về giảm liều dần và ngưng MTX thay vì ngưng DMARD sinh học hay tsDMARD với lí do người bệnh cần dùng DMARD sinh học hoặc tsDMARD bản thân do kém đáp ứng với MTX. Tuy nhiên, ACR cũng lưu ý một số thuốc sinh học (vd: adalimumab, infliximab) sẽ cần kết hợp MTX để giảm hình thành kháng thể kháng thuốc.

Cả 2 hướng dẫn đều rất nhấn mạnh thảo luận giữa bác sĩ Nội cơ xương khớp và người bệnh về: mong muốn và tài chính về việc ngưng DMARD sinh học hay ngưng DMARD cổ điển. Ở Việt Nam, giá cả thuốc DMARD sinh học vẫn còn khá cao so với mặt bằng chung thu nhập bình quân của người dân. Điểm khác biệt với Hướng dẫn của Hoa Kì (ACR) hay các nước đã phát triển khác là bác sĩ Việt Nam thường có xu hướng giãn liều hoặc giảm liều DMARD sinh học để giảm giá thành điều trị thay vì giảm DMARD cổ điển

Lời kết

Tóm lại, người bệnh VKDT không nên ngưng hoàn toàn điều trị mà nên duy trì ít nhất 1 DMARD vì nguy cơ tái phát cao (khoảng 40-50%). Việc giãn liều hay giảm liều DMARD chỉ nên được cân nhắc khi lui bệnh duy trì >6 tháng.

Tài liệu tham khảo

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *