Is rheumatoid arthritis transmitable

Viêm khớp dạng thấp có lây lan không?

⏳Thời gian đọc: 5 phút

Một thắc mắc thường gặp của người bệnh mới được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp: tôi có lây bệnh này cho người thân gia đình không? Tôi mắc bệnh thì con tôi có bị bệnh không (tức có di truyền không)? Câu trả lời ngắn gọn: Viêm khớp dạng thấp không lây như bệnh truyền nhiễm, nhưng nếu bố mẹ mắc bệnh thì tăng nguy cơ con bị bệnh.

Trước khi đi vào câu trả lời cụ thể, chúng ta sẽ cần tìm hiểu cơ chế nào gây ra viêm khớp dạng thấp (VKDT)?

Bệnh sinh viêm khớp dạng thấp

Cú đánh thứ nhất

Immunology of rheumatoid arthritis
Con đường dẫn tới VKDT cũng lắt léo và hiểm trở như con đường tơ lụa, là tổng hòa nhiều yếu tố gen và môi trường.
VKDT khởi nguồn từ nhiều năm trước khi triệu chứng đầu tiên xuất hiện. Khởi phát liên quan nhiều gen có thể sinh kháng thể gây bệnh gắn với các protein bị biến đổi, phá vỡ dung nạp miễn dịch và tạo phản ứng tự miễn không triệu chứng (“cú đánh thứ nhất”).
Pha đầu tiên này được đánh dấu chủ yếu với stress môi trường thông qua phơi nhiễm chất độc hại hoặc kích hoạt miễn dịch bẩm sinh. Chúng bao gồm khói thuốc lá, sản phẩm của vi khuẩn, virus, nhiễm trùng khu trú trên niêm mạc và các kích thích môi trường khác.
Những stress này gây tăng hoạt các enzyme làm biến đổi peptide bình thường; thường gặp nhất là con đường chuyển arginine thành citrulline và có thể qua những con đường khác như carbamyl hóa v.v. Quá trình biến đổi protein vẫn có xảy ra ở người khỏe mạnh và tự giới hạn, không có tác động gây bệnh.
Nhưng với những người mang gen nguy cơ—đáng chú ý nhất là gen MHC nhóm II—peptide bị citrulline hóa sẽ gắn chặt chẽ với vùng gắn kháng nguyên, trình diện với tế bào T hiệu quả hơn protein chưa bị biến đổi. Vì tế bào T chưa tiếp xúc với peptide biến đổi này trong quá trình phát triển nên khi tế bào T từ tuyến ức tiếp xúc peptide biến đổi sẽ tạo đáp ứng miễn dịch đáp ứng chống lại các yếu tố quyết định trên kháng nguyên này (gọi là epitope).
Quá trình tiếp xúc thường xảy ra trên bề mặt niêm mạc ở phổi, ruột và khoang miệng, thường nhất tạo ra kháng thể chống lại peptide được citrulline hóa (ACPA, anti-citrullinated protein antibody hoặc còn gọi là anti CCP, anti cyclic citrullinated protein). Anti CCP chống lại nhiều protein như fibronectin, vimentin, histone, α-enolase v.v.

Cú đánh thứ hai

Qua nhiều năm, lượng anti CCP chống lại đa dạng protein tăng lên nhiều lần. Tuy nhiên, anti CPP tự bản thân không đủ gây viêm màng hoạt dịch, và cần “cú đánh thứ hai”. Anti CCP tiếp xúc thụ thể Fc trên màng hoạt dịch, giải phóng chất trung gian giãn mạch, làm anti CCP đi vào khớp nhiều hơn.

Một khi đã vào khớp, nếu anti CCP tiếp xúc kháng nguyên thì chúng có thể cố định bổ thể, khởi động một phản ứng dây chuyền, huy động tế bào miễn dịch bẩm sinh và đáp ứng, sản xuất thêm cytokine và chemokine, hoạt hóa tế bào hoạt dịch giống nguyên bào sợi và đại thực bào. Đây là “giọt nước tràn ly” dẫn đến viêm khớp trên lâm sàng.

Hàng loạt yếu tố di truyền cường đại đáp ứng với protein bị biến đổi, tạo tự miễn chống lại protein bình thường thông qua lan truyền epitope (ví như chủ nợ siết thằng anh nợ nần lẫn thằng em vô tội vì nhìn hao hao thằng anh) hoặc viêm màng hoạt dịch tại chỗ. Đa hình của gen mã hóa tín hiệu tế bào T (PTPN22), đa hình của promoter gen cytokin tăng cường thêm phản ứng này. Ngoài ra, thay đổi ngoại di truyền (epigenetic) như methyl hóa DNA, microRNA, thay đổi histone cũng tham gia làm “tòng phạm”.

Mặc dù cơ chế kháng viêm có thể được lôi ra chống địch, nhưng chúng không đủ để dập tắt quá trình viêm và phá hủy. Một vài người sẽ bệnh phụ thuộc cytokine, vài người lại phụ thuộc tế bào B và vài người khác phụ thuộc tế bào T, thậm chí phối hợp phức tạp nhiều cơ chế. Điều này gợi ý VKDT có thể là một phổ các rối loạn khác nhau theo từng bệnh nhân, phụ thuộc vào dấu ấn di truyền và yếu tố kích phát môi trường.

Viêm khớp dạng thấp có lây không?

Quay lại câu hỏi ban đầu. Mặc dù bệnh sinh có thể liên quan nhiễm trùng tại chỗ niêm mạc nhưng rõ ràng VKDT không thể lây lan giữa người với người như bệnh truyền nhiễm, vì đây là bệnh đa yếu tố kết hợp di truyền và môi trường. Vậy VKDT có di truyền sang đời con?
Các nghiên cứu sổ bộ trên dân số Iceland, Thụy Điển, Đan Mạch cho thấy người thân hàng 1 có thể tăng nguy cơ mắc VKDT khoảng 4 lần và người thân hàng 2 khoảng 2 lần.

Hệ số di truyền (heritability) là một chỉ số thống kê, chỉ mức độ di truyền cao hay thấp của một tính trạng.

Năm 1970, Lawrence lần đầu ước tính hệ số di truyền của VKDT vào khoảng 60 – 70% cho trường hợp huyết thanh dương tính. Nhưng do Lawrence giả định tính gia đình hoàn toàn do tác động gen, một nhóm tác giả khác sử dụng dữ liệu sổ bộ Thụy điển (2016) ước tính hệ số di truyền chỉ 40%..
Một phương pháp kinh điển để tách biệt tác động môi trường và tác động di truyền là nghiên cứu người sinh đôi. MacGregor và cộng sự thực hiện nghiên cứu cho thấy tỉ lệ tương hợp là 12 – 15% trên cặp sinh đôi cùng trứng, 2 – 5% trên cặp sinh đôi khác trứng. Tỉ lệ này không cao cho thấy yếu tố môi trường hoặc epigenetic có thể cũng quan trọng tương đương yếu tố di truyền.

Đối với mối liên quan giữa di truyền và huyết thanh dương tính (anti CCP dương), một số nghiên cứu cho thấy OR cho VKDT huyết thanh dương là 3,95 (KTC 95%: 3,72 – 4,19) (cho người thân hàng 1) so với OR cho VKDT huyết thanh âm là 2,47 (2,24 – 2,72). Từ đó tính được hệ số di truyền cho VKDT huyết thanh dương là 40 – 50% và huyết thanh âm là 20 – 30%.

Lời kết

Tóm lại, VKDT không lây trực tiếp từ người sang người. Nhưng khi có người thân mắc VKDT thì nguy cơ bị VKDT tăng 2 – 4 lần, hệ số di truyền (tức mức độ cha mẹ di truyền lại bệnh sang con) khoảng 40%. Nếu VKDT huyết thanh dương thì khả năng di truyền cao hơn huyết thanh âm.

Tài liệu tham khảo

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *